Thư của Giám đốc Quốc gia Dự án

Dự án VPEG sẽ góp phần tăng cường năng lực cho Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Sở TNMT tham gia dự án. Dự án cũng hỗ trợ Bộ TNMT xây dựng các cơ chế quản lý ô nhiễm công nghiệp dựa trên cơ sở tăng cường sự phối hợp và gắn kết giữa các cơ quan, đơn vị liên quan; hỗ trợ việc xây dựng các chính sách và khuôn khổ pháp lý về quản lý ô nhiễm công nghiệp nhằm phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương khác một cách hiệu quả hơn. PGS. TS. Lê Kế Sơn - Giám Đốc Quốc gia Dự án VPEG cho rằng các KCN là ưu tiên hàng đầu của Tổng cục Môi trường. Chương trình Quốc gia của VPEG được thiết kế để đáp ứng ưu tiên này.

Năm 1991 hình thành Khu Công nghiệp (KCN) đầu tiên ở Việt Nam. Đến năm 1995 đã có 12 KCN với tổng diện tích là 2.360 ha, năm 2000 có 65 KCN với 11.964 ha; năm 2005 có 131 KCN với 26.986 ha và đến cuối năm 2009 có khoảng 230 KCN với diện tích xấp xỉ 60.000 ha. Như vậy, sau mỗi 5 năm, số lượng và diện tích đất dành cho các KCN ở Việt Nam tăng xấp xỉ 2 lần.

Mặc dù có định hướng điều chỉnh các KCN cho một số vùng đặc biệt khó khăn như Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ, song các KCN chủ yếu tập trung vào 23 tỉnh và thành phố tại các khu kinh tế trọng điểm là Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Các KCN tại các vùng kinh tế trọng điểm này đã chiếm tỷ lệ 68,2% tổng số KCN và 75% tổng diện tích của các KCN (Nguồn Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tháng 10/2009).

Các KCN đã có những đóng góp rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành nhiều khu đô thị mới, tạo việc làm cho hàng triệu người lao động. Năm 2008, các KCN đã đóng góp 33,2 tỷ USD (chiếm 38% GDP của cả nước), tăng 47% so với năm 2007.

Nước thải từ các KCN có thành phần đa dạng, chủ yếu là các chất lơ lửng, chất hữu cơ và kim loại nặng. Khoảng 70% trong số khoảng 1 triệu m3 nước thải hàng ngày từ các KCN được xả thẳng ra môi trường, đặc biệt tại các lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, sông Cầu và sông Đồng Nai. Tính đến nay, chỉ mới có khoảng 43% KCN đã xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung. Theo kết quả kiểm tra, thanh tra toàn diện hơn 900 cơ sở sản xuất tại các KCN năm 2010 của Tổng cục Môi trường, bức tranh ô nhiễm môi trường và tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn chưa có những chuyển biến tích cực.

Chúng ta khẳng định tính tất yếu và vai trò rất quan trọng của các KCN trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhưng phát triển các KCN cần thiết phải được đặt trong một quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp trên quy  mô toàn quốc, quy mô của từng vùng kinh tế và ở mỗi tỉnh, thành. Những nguyên nhân chính là tổ chức, năng lực và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường tại các KCN. Bộ máy quản lý nhà nước về môi trường tại các tỉnh, thành vừa thiếu, vừa yếu, lại bị dàn trải, chia cắt quyền hạn, chia cắt trách nhiệm. Phải có cơ quan đầu mối và cá nhân đầu mối để quy trách nhiệm rõ ràng. Đây là một nguyên lý cơ bản trong quản lý không thể xem nhẹ hoặc bỏ qua.

Hiện nay, Chính phủ đang tiếp tục tăng cường phân cấp trách nhiệm trên nhiều lĩnh vực cho các địa phương, tuy nhiên năng lực quản lý nhà nước ở các địa phương nói chung còn yếu kém. Vì vậy các cơ quan trung ương có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các địa phương triển khai thực hiện chính sách pháp luật một cách hiệu quả.