Thông tin về các đối tác tham gia

TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG

Tháng 1 năm 2010, Tổng cục Môi trường (TCMT) thuộc Bộ TNMT được Bộ trưởng Bộ TNMT giao trách nhiệm xây dựng & thực hiện dự án VPEG ở cấp Quốc gia và quản lý tổng thể dự án. PGS. Ts. Lê Kế Sơn - Phó Tổng cục trưởng TCMT làm Giám đốc Quốc gia Ban Quản lý Dự án VPEG. Ban Quản lý Dự án Quốc gia hỗ trợ cho việc thảo luận về các vấn đề tác nghiệp và quản lý, chia sẻ bài học về cách tiếp cận và kinh nghiệm của các tỉnh. Ban QLDA chỉ đạo tác nghiệp Điều phối viên Quốc gia và các Ban QLDA cấp tỉnh. Ban QLDA cũng sẽ cho ý kiến đối với kế hoạch công tác năm trước khi trình lên Ban Chỉ đạo.

HÀ NỘI

Hà Nội bao gồm cả diện tích Hà Tây được sát nhập từ tháng 8 năm 2008 và hiện có dân số trên 6 triệu người. Hà Nội hiện tại có 9 khu công nghiệp (KCN) với 500 cơ sở công nghiệp nằm trong khu dân cư, 10 KCN mới được thành lập, 25 cụm công nghiệp nhỏ và vừa và 1.270 làng nghề. Hầu hết các cơ sở công nghiệp tư nhân hoặc cơ sở công nghiệp quy mô nhỏ không có hệ thống kiểm soát ô nhiễm. Do đó, để hợp nhất Hà Nội và Hà Tây, cần có sự tái cơ cấu đáng kể về chức năng quản lý môi trường. Sở TNMT Hà Nội dự kiến sẽ tập trung nâng cao hiệu quả QLÔNCN tại các cụm tiểu thủ công nghiệp và các khu vực công nghiệp cũ. 

BẮC NINH

Bắc Ninh là một tỉnh đang trong quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng. Trên địa bàn tỉnh hiện có 5 khu công nghiệp đang hoạt động và 7 khu công nghiệp đang được xem xét phê duyệt. Ngoài các KCN, có 29 cụm công nghiệp đang hoạt động. Kế hoạch phát triển công nghiệp của tỉnh đến năm 2015 xác định 15 KCN và 54 CCN. Các KCN, CCN và làng nghề là nguồn gây ô nhiễm chính đối với nước và không khí. Ô nhiễm đất chủ yếu là do xả chất thải rắn của làng nghề. Bắc Ninh nằm ở lưu vực sông Cầu, một trong ba lưu vực sông lớn nhất tại Việt Nam đáng được quan tâm đặc biệt trong chương trình BVMT của Chính phủ Việt Nam. 

HẢI DƯƠNG

Trong những thập kỷ qua, kinh tế Hải Dương chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Trong năm 2008, các cơ sở công nghiệp bắt đầu đóng góp hơn 13% vào GDP của tỉnh. Đến nay, Hải Dương có 21 KCN đang được Chính phủ phê duyệt với 12 KCN đã đi vào hoạt động 38 cụm công nghiệp. Các ngành công nghiệp chủ yếu là cơ khí, nhiệt điện, điện tử, vật liệu xây dựng, may mặc, nông nghiệp và chế biến thực phẩm. Ô nhiễm công nghiệp bao gồm nước thải, chất thải rắn và khí thải. Khí thải là ưu tiên của Sở TNMT Hải Dương vì trên địa bàn tỉnh có các nhà máy nhiệt điện và xi măng. Hải Dương nằm ở lưu vực sông Cầu, một trong 3 lưu vực sông lớn nhất tại Việt Nam đang được quan tâm đặc biệt trong chương trình BVMT của Chính phủ Việt Nam. 

ĐÀ NẴNG

Sở TNMT Đà Nẵng xây dựng kế hoạch công tác năm thứ hai thuộc dự án VPEG trên cơ sở có nền tảng QLÔNCN mạnh từ VCEP. Đà Nẵng đặt mục tiêu trở thành một “Thành phố xanh” vào năm 2020 và các hoạt động sản xuất công nghiệp, dịch vụ và du lịch trở thành động lực chính cho sự phát triển kinh tế của thành phố. Đà Nẵng hiện có 6 KCN và một số nhà máy hoạt động trong khu dân cư đông đúc. Các nhà máy chế biến hải sản, sản xuất vật liệu xây dựng và thép là những nguồn gây ô nhiễm nhiều nhất về nước thải và khí thải.

QUẢNG NGÃI

Kinh tế Quảng Ngãi chủ yếu dựa vào nông nghiệp, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản cùng với sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp vừa và nhỏ. Một thành phần quan trọng nữa trong kinh tế của tỉnh là khu kinh tế Dung Quất đang ngày càng mở rộng với tổng diện tích 10.300 ha và cảng biển, nhà máy lọc dầu trị giá 3 tỷ USD. Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ngãi cần được tăng cường năng lực QLÔNCN để đáp ứng quá trình công nghiệp hóa của tỉnh. Việc tăng cường năng lực quản lý được thực hiện thông qua việc xây dựng những kỹ năng tổng hợp về lập kế hoạch QLÔNCN, tuân thủ và cưỡng chế thực thi, lấy mẫu và phân tích mẫu, và nâng cao nhận thức cộng đồng. 

BÌNH DƯƠNG

Bình Dương đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trong cả nước nhờ phát triển công nghiệp. Năm 2006, Bình Dương có 23 khu công nghiệp và 15 cụm công nghiệp. Cao su, giấy và nhuộm là những ngành công nghiệp cũ. Hiện tỉnh chú trọng ưu tiên cho các ngành cơ khí, điện tử, hóa chất. Những nhà máy riêng lẻ nằm ngoài khu công nghiệp thải ra lượng nước thải nhiều gấp 2 lần so với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp. Chất thải rắn và chất thải nguy hại là chất gây ô nhiễm chính đối với môi trường đất và nước. Các hoạt động của lò hơi, lò đốt, lò sấy, máy phát điện tạo ra phần lớn lượng khí thải công nghiệp. 

LONG AN

Long An là một trong những tỉnh công nghiệp hóa cao nhất ở miền Nam. Có 23 khu công nghiệp được cấp giấy phép trong đó 13 khu công nghiệp đang hoạt động, cả 13 khu công nghiệp này đều có nhà máy xử lý nước thải hoạt động. Ngoài ra, có 42 cụm công nghiệp được UBND tỉnh cấp giấy phép trong đó 13 cụm công nghiệp đang hoạt động, 10 cụm công nghiệp có nhà máy xử lý nước thải hoạt động. Cụm công nghiệp Lợi Bình Nhơn là địa điểm quy hoạch để di dời tất cả các nhà máy chế biến hạt điều ở Long An vào đây.    

SÓC TRĂNG

Sóc Trăng là tỉnh nông nghiệp, kinh tế dựa vào nông nghiệp, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản. Từ năm 2001 đến 2005, công nghiệp phát triển với tốc độ trung bình 18,5%/năm. Năm 2005, Sóc Trăng có khoảng 6000 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, đến năm 2009 con số này đã tăng lên 6700 doanh nghiệp. Sản phẩm công nghiệp của Sóc Trăng ngày càng tiếp cận thị trường châu Âu, Nhật Bản, và Trung Đông. Tuy nhiên, phát triển kinh tế mang lại nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng cho các khu dân cư và công nghiệp. Vấn đề này càng nghiêm trọng với những  doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn không có khả năng tiếp cận những công nghệ môi trường phù hợp để xử lý chất thải.